70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5/1954 - 7/5/2024
Luật pháp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Chiêm
Ngày gửi: 20h:24' 05-05-2024
Dung lượng: 772.7 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Chiêm
Ngày gửi: 20h:24' 05-05-2024
Dung lượng: 772.7 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
LUẬT PHÁP | | Claude Frédéric Bastiat
Phạm Nguyên Trường dịch; Nxb Tri thức 2016; 176 trang
Bản tiếng Việt © 2015 NXB Tri thức
Dịch theo bản tiếng Anh The Law do Dean Russell dịch,
Foundation for Economic Education, Irvington–on–Hudson,
New York; tham khảo bản dịch tiếng Nga của S. A. Nikolaev
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Staff: tve
Sách: Silence00
Scan: Thanhbt
Biên tập & Ebook: Ngọc Anh
Claude Frédéric Bastiat
(1801–1850)
Lời Nhà Xuất Bản
Nhà xuất bản Tri thức trân trọng giới thiệu cuốn Luật pháp
(bản tiếng Anh The Law do Dean Russell dịch, Foundation for
Economic Education, Irvington–on–Hudson, New York; tham
khảo bản dịch tiếng Nga của S. A. Nikolaev) của Claude Frédéric
Bastiat, do dịch giả Phạm Nguyên Trường dịch. Xin bạn đọc lưu
ý đây là tài liệu tham khảo dành cho giới nghiên cứu chứ không
thuộc loại sách phổ biến kiến thức. Vì dịch giả là người có uy tín
trong giới dịch thuật nên chúng tôi không tổ chức hiệu đính,
không can thiệp vào cách diễn đạt và các thuật ngữ chuyên
môn.
Trong bản dịch này, chúng tôi trân trọng trích dẫn, giới
thiệu đến bạn đọc Lời giới thiệu của Giáo sư kinh tế học Walter
E. Williams. Ông đã có những phân tích sâu sắc, xác đáng về
tầm tư tưởng của Claude Frédéric Bastiat.
Chúng tôi tôn trọng, nhưng không nhất thiết đồng tình với
quan điểm, cách tiếp cận và lí giải riêng của tác giả về các vấn
đề được đề cập đến trong cuốn sách.
Chúng tôi mong độc giả đọc cuốn sách này như một tài liệu
tham khảo với tinh thần phê phán và khai phóng.
Nhà xuất bản xin trân trọng đề nghị bạn đọc xem Lời người
dịch, trước khi đọc vào phần chính văn, để hiểu đúng khái
niệm “Chủ nghĩa xã hội”, “Chủ nghĩa cộng sản” được trình
bày trong cuốn sách này.
Xin chân thành cảm ơn!
Lời người dịch
Bạn đọc đang cầm trên tay một trong các tác phẩm quan
trọng nhất của Claude Frédéric Bastiat (1801–1850), cũng là
một trong những tác phẩm gối đầu giường của những người
theo trường phái tự do cá nhân ở phương Tây. Chỉ có một điều
đáng tiếc: tác phẩm này được dịch từ tiếng Anh chứ không phải
từ tiếng Pháp. Tôi nhận thức được rằng như thế là thiếu sót lớn,
nhưng đây là một tác phẩm hay và súc tích đến nỗi tôi không
thể không chia sẻ cũng như không thể chờ đợi lâu hơn được
nữa dù biết rằng sai sót là khó tránh khỏi. Để khắc phục phần
nào, tôi đã tham khảo bản dịch tiếng Nga (cũng dịch từ tiếng
Anh) của S. A. Nikolaev và đưa thêm vào phần Lời giới thiệu
cho bản dịch tiếng Nga do dịch giả Anton Newmark viết.
Văn của Claude Frédéric Bastiat sáng sủa, cô đọng, mạch lạc
và dễ hiểu đến mức chẳng cần giải thích gì thêm, chỉ xin bạn
đọc lưu ý một điều: tác phẩm này được xuất bản năm 1850, tức
là cách lần xuất bản đầu tiên bằng tiếng Việt đúng 165 năm,
nhiều thuật ngữ thời đó, như chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản… có nội hàm chắc chắn là khác với cách hiểu của chúng ta
ngày nay.
Thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội” mà Bastiat sử dụng trong
sách này và cũng là đối tượng ông phê phán rõ ràng rất khác so
với thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội” đang được sử dụng hiện nay
tại Việt Nam. Chẳng hạn ở khía cạnh thể chế kinh tế: Chủ nghĩa
xã hội ở giữa thế kỉ XIX coi nền kinh tế thị trường là công cụ
bóc lột của Chủ nghĩa tư bản cần phải được loại trừ tận gốc, thì
ngày nay ở Việt Nam nó đã được chấp nhận. Thực tế là, để thực
hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”, Việt Nam đã chủ trương phát triển một nền kinh tế thị
trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập quốc tế, kết hợp với một Nhà
nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chắc hẳn bạn đọc nhận thức được sự khác biệt đó và có thể
rút ra những đánh giá và nhận xét phù hợp của riêng mình. Chỉ
có khát vọng về tự do của Claude Frédéric Bastiat là không
khác, là còn lại mãi với thời gian, và đó là điều mà tất cả chúng
ta cùng trân trọng. Ludwig von Mises (1881–1973) ca ngợi ông
là “người có bút pháp rất độc đáo, đọc ông là cả một niềm vui.
…” và không có lí do gì khiến tôi có thể trì hoãn lâu hơn nữa
niềm vui của bạn đọc.
Tôi xin được cảm ơn Nhà xuất bản Tri thức đã giúp tôi đưa
tác phẩm quý giá này đến với bạn đọc. Và cảm ơn chính bạn
đọc, người đã cổ vũ và đồng hành với tôi trong suốt mấy năm
qua.
Lời giới thiệu của Walter E. Williams[1]
(Trích)
Phải đến năm bốn mươi tuổi tôi mới đọc tác phẩm kinh điển
Luật pháp của Claude Frédéric Bastiat. Tôi mãi mãi mang ơn,
một người mà tôi không biết tên, đã gửi cho tôi cuốn sách này.
Sau khi đọc, tôi tin rằng chưa đọc Bastiat thì hiểu về tự do vẫn
chưa thể nói là trọn vẹn. Đọc Bastiat khiến tôi nhận thức sâu
sắc về khoảng thời gian lãng phí, cùng những thất vọng về quá
trình lạc lối giữa những con đường không lối thoát khi đi tìm
triết lí cho cuộc đời mình. Đối với tôi, tác phẩm Luật pháp
không tạo ra sự chuyển biến về mặt triết học nhiều như nó
từng tạo lập trật tự trong suy nghĩ của tôi về tự do và cách hành
xử đúng đắn của con người.
Nhiều nhà triết học đã có những đóng góp quan trọng vào
cuộc thảo luận về tự do, Bastiat nằm trong số đó. Nhưng đóng
góp lớn nhất của ông là đã đưa cuộc thảo luận ra khỏi tháp ngà
và làm cho tư tưởng về tự do trở nên rõ ràng đến mức ngay cả
những người không biết chữ cũng có thể hiểu, còn những
người sùng bái nhà nước thì không thể che giấu được. Rõ ràng,
việc thuyết phục nhân dân về tính ưu việt trên phương diện đạo
đức của tự do cá nhân là công việc cực kì quan trọng.
Giống như nhiều người, Bastiat cho rằng chính phủ là mối
đe doạ lớn nhất đối với tự do. Xin lưu ý, sự mạch lạc trong ngôn
ngữ của ông giúp chúng ta nhận ra và hiểu những hành động
xấu xa của chính phủ được hợp pháp hoá. Bastiat viết: “Chỉ cần
xem luật pháp có lấy những cái thuộc về một số người nào đó
và đem cho những người mà chúng không thuộc về. Chỉ cần
xem luật pháp có làm lợi cho công dân này mà công dân khác
phải trả giá bằng cách làm cái điều mà tự người công dân kia
không thể làm mà không phạm tội”. Với cách mô tả chính xác
như thế về hành động xấu xa được hợp pháp hoá, chúng ta
không thể không kết luận rằng hầu hết các hoạt động của
chính phủ, trong đó có chính phủ của chúng ta, là cướp bóc
được hợp pháp hoá, hoặc dùng ngôn ngữ hiện đại là ăn cắp
được hợp pháp hoá.
Claude Frédéric Bastiat có thể dễ trở thành người đồng hành
với những người đã kí tên vào bản Tuyên ngôn Độc lập của
nước ta. Quan điểm về tự do và vai trò thích hợp của chính phủ
của những người đã kí vào bản Tuyên ngôn Độc lập thể hiện rõ
trong câu nói bất hủ: “Chúng tôi khẳng định một chân lí hiển
nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng Tạo hoá đã
ban cho họ một số quyền bất khả tương nhượng, trong đó có
quyền sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Rằng các chính phủ được lập ra là để bảo đảm cho những quyền
này…”. Bastiat chia sẻ quan điểm hệt như thế khi viết: “Đời
sống, năng lực, sản xuất – nói cách khác, cá tính, tự do, tài sản
– chính là con người. Và bất chấp sự xảo quyệt của các nhà lãnh
đạo chính trị khéo léo, ba món quà của Chúa vẫn có trước và
đứng trên luật lệ do con người đặt ra”.
Bastiat gán cho chính phủ những lí do tương tự như các Nhà
Lập quốc Mĩ, khi viết: “Cuộc sống, quyền tự do và tài sản tồn
tại trên đời không phải vì con người đã làm ra luật pháp. Ngược
lại, sự kiện là cuộc sống, quyền tự do và tài sản đã có từ trước,
và điều đó buộc người ta phải coi luật pháp là tối thượng”.
Không có lời tuyên bố nào về những quyền tự nhiên được Chúa
ban cho hay hơn là những lời lẽ trong Tuyên ngôn Độc lập của
Mĩ và trong tác phẩm Luật pháp của Bastiat.
Bastiat gắn hi vọng về tự do vào nước Mĩ khi ông viết: “…
Hãy nhìn vào nước Mĩ. Không có quốc gia nào trên thế giới mà
luật pháp lại được thể hiện khuôn khổ thích hợp đến như thế:
Bảo vệ quyền tự do và tài sản của mỗi người. Kết quả là, dường
như không có quốc gia nào trên thế giới mà trật tự xã hội lại
được xây dựng trên nền tảng vững chắc đến như thế”. Năm
1850, Bastiat nhận xét rằng có hai vấn đề mà Mĩ còn thiếu sót:
“Nô lệ là vi phạm – bằng luật pháp luật – quyền tự do. Thuế
xuất nhập khẩu có tính bảo hộ là vi phạm – bằng luật pháp –
quyền sở hữu tài sản”.
Nếu Bastiat còn sống đến ngày hôm nay thì hẳn là ông sẽ
thất vọng trước việc chúng ta không thể giữ luật pháp trong
khuôn khổ thích hợp của nó. Trong suốt hơn một thế kỉ rưỡi
vừa qua, chúng ta đã tạo ra hơn 50.000 bộ luật. Hầu hết trong
số đó cho phép nhà nước sử dụng bạo lực chống lại những
người chưa từng sử dụng bạo lực để chống lại những người
khác. Đấy là những bộ luật như cấm hút thuốc lá ở các cơ sở tư
nhân và “đóng góp” cho an sinh xã hội đến luật về môn bài và
luật lương tối thiểu. Trong mỗi trường hợp, người kiên quyết
đòi hỏi và bảo vệ quyền do Chúa ban cho mình là được ở một
mình.
[…]
Lời giới thiệu cho bản dịch tiếng Nga của S. A.
Nikolaev
Đây là tác phẩm mở đầu cho một loạt ấn bản nói về quyền tự
do cá nhân – tự do theo nghĩa ban đầu và đúng đắn của từ này.
Hôm nay, nước Nga rơi vào tình trạng là trên đống tro tàn
của hệ thống cộng sản đã sụp đổ đang xuất hiện hệ thống quản
lí nhà nước mới, nhưng lại rất giống với hệ thống cũ. Mặc dù bộ
máy nhà nước mới được gọi bằng tên khác và tuyên bố những
nguyên tắc mới, về mặt hình thức cho phép công dân làm
những việc mà trước đây bị coi là tội phạm, nhưng bên cạnh
bánh lái của nó thường vẫn là những con người cũ, dựa vào
khối quần chúng cũ, những người đã sống và làm việc, suy
nghĩ và hành động như trong thời “xã hội chủ nghĩa”. Bộ máy
quản lí hành chính quan liêu hiện đại của nước Nga với tất cả
các lực lượng an ninh và hàng triệu cán bộ của nó, dường như
đã lớn hơn bộ máy đó trong phần còn lại của thế giới, nhưng
chúng ta vẫn có cơ hội thoát khỏi con đường phát triển đang
dẫn tới một hình thức mới của chính phủ độc tài toàn trị.
Mối quan hệ giữa công dân và nhà nước ở nước Nga hiện đại
đã quay lại với sơ đồ thường thấy: “Nhà nước mạnh – Công dân
ngoan”. Dường như chúng ta vẫn còn đang được thở với phần
còn lại của bầu không khí tự do mà chúng ta nhận được từ năm
1991. Các nhà chức trách mới chưa kịp đưa chúng ta trở lại với
mô hình toàn trị cũ và cũng chưa kịp xây dựng khuôn mẫu của
cái gọi là xã hội “dân chủ” phương Tây hiện đại. Người ta thậm
chí còn chưa cấy vào đầu óc của chúng ta thái độ tuân phục vô
điều kiện những người cai trị nhân danh “nhân dân”. Chúng ta
còn chưa tôn trọng nhà nước như những kẻ đang nắm quyền
muốn, chưa thích đóng thuế và thỉnh thoảng vẫn chỉ trích bộ
máy quan liêu. Có lẽ, mặc dù có lịch sử toàn trị lâu dài, ở đâu đó
trong trái tim, chúng ta – vẫn là những người tự do. Tạm thời
là thế.
Trong nhân dân chúng ta vẫn chưa phát triển cảm giác tự
nhiên và trách nhiệm đóng thuế, những khoản thuế mà đúng
ra nên gọi là “cướp bóc hợp pháp”. Trong lúc các doanh nghiệp
và các công ti phải nằm dưới sự kiểm soát liên tục và gắt gao
của những cơ quan nhà nước và bị đe doạ phạt tiền và truy tố,
phải nộp thuế quá cao vào kho bạc không đáy của nhà nước,
sau đó các khoản tiền hào phóng đó được phân phát cho những
nhóm lợi ích, thì các cá nhân –những người bình thường, vẫn
trao đổi hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở tự nguyện mà không
cần quan tâm tới nhà nước. Họ xây dựng các mối quan hệ với
nhau mà không sợ nhà nước và cho đó là hoàn toàn tự nhiên (ví
dụ người ta đi xe của các lái xe tư nhân, sửa chữa xe trong
xưởng sửa chữa tư nhân, thuê các đội xây dựng và thợ thủ công
và mua những món hàng ở chợ mà không phải đóng “thuế”).
Không ai nghĩ đến chuyện phải nộp cho nhà nước một phần khi
bán cho nhau theo thoả thuận hoặc nộp vào “ngân sách”
khoản tiền kiếm được bằng lao động trung thực khi bán một ít
khoai tây mà chúng ta trồng được ở trong vườn. Nghe có vẻ lạ,
nhưng ở nhiều nước (trong đó có Mĩ) làm như thế bị coi là tội
phạm. Thế mà gọi là tự do ư?
Hiện nay không phải tất cả các công dân Nga đều coi việc
báo cáo về thu nhập của mình với nhà nước là “bình thường” –
tương tự báo cáo với bọn bảo kê, như người phương Tây thường
làm –và nộp cái khoản đóng góp đáng xấu hổ – gọi là “thuế”.
Hiện nay chúng ta chưa có hệ thống chỉ điểm mới khi nói đến
“hiện tượng che giấu thu nhập”.
Nhiều người không bị nhà nước quấy rầy đã tích cực xây
dựng cuộc sống của mình; đấy là những người tạo dựng hạnh
phúc cá nhân bằng chính sức lực của mình và không còn đòi
hỏi nhà nước phải bảo đảm cuộc sống của mình bằng những
khoản thuế do người khác đóng.
Và mặc dù ngày nào chúng ta cũng bắt gặp sự tuỳ tiện của
các quan chức và chúng ta vẫn còn phụ thuộc vào quyết định
của bộ máy hành chính quan liêu, việc hành xử thiếu tôn trọng
luật pháp mà không bị trừng phạt của những người nắm quyền
lực, nhà nước mới của nước Nga vẫn chưa tạo ra hệ tư tưởng về
thuế khoá như nó đang hiện diện ở các nước khác. Nhưng
chúng ta đang có nguy cơ là một lần nữa sẽ lại rơi vào vực thẳm
của cướp bóc hợp pháp và phải chấp hành tất cả các mệnh lệnh
của nhà nước.
Nhà nước có nhiều khuôn mặt nhưng bản chất thì bao giờ
cũng là một. Nó luôn hành động bằng cách cưỡng bức người
dân. Tên nó là gì: chế độ quân chủ, chế độ độc tài hay dân chủ,
không phải là quan trọng – bản chất của nó bao giờ cũng là
một. Một nhóm người nhận được (hay cướp được) quyền cai trị
những người khác nhân danh chính những người đó hoặc nhân
danh “đa số” và cai trị một cách vui vẻ, đồng thời kiếm lợi cho
bản thân mình.
Có lẽ tất cả chúng ta đều muốn được tự do và tương tác với
những người khác trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi. Không ai
muốn trở thành nô lệ cho người khác hay cho một nhóm người
nào đó. Nhưng thường thì chúng ta không nhận thấy tự do của
chúng ta kết thúc ở chỗ nào và ép buộc bắt đầu từ đâu.
Hôm nay chúng ta cất lên tiếng nói của mình nhằm bảo vệ
quyền tự do của chúng ta, đòi nhà nước không can thiệp vào
công việc của chúng ta, chấm dứt việc áp đặt từ phía nhà nước
bất cứ việc gì. Chúng ta nói: “Mọi người về bản chất đều là
người tự do. Bản chất của con người là thông minh và tự mình
tạo ra hạnh phúc cho chính mình. Nhà nước, các quan chức nhà
nước và các nhà lập pháp hãy để chúng tôi yên!”
Tất cả các nguyên lí được trình bày trong cuốn sách này đã
được lịch sử thế kỉ XIX và XX khẳng định. Tất cả các dự đoán
của Bastiat, ngược lại với những người ủng hộ các hệ thống
chính phủ khác nhau (trong đó có cộng sản, chủ nghĩa xã hội
và dân chủ), đã trở thành sự thật.
Cuộc nội chiến ở Mĩ, các cuộc cách mạng và các cuộc đảo
chính, quá trình hấp hối và sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội – là
khẳng định trên thực tế của những kết luận hợp logic của ông.
Nếu lí thuyết được kinh nghiệm khẳng định thì đấy là lí
thuyết đúng. Nếu lí thuyết, bên cạnh đó, còn được xây dựng
trên cơ sở phân tích chính nền tảng của nhân loại – trên bản
chất của chính con người – thì nó còn đúng hơn nữa. Xin hãy
cố gắng hiểu nó không chỉ bằng cảm giác, mà còn bằng đầu óc
vì nó hợp lí và công chính đến từng từ.
Anton Newmark
Dẫn nhập
Richard Ebeling[2]
Bảo vệ tự do kinh tế chưa bao giờ là nhiệm vụ dễ dàng.
Adam Smith bày tỏ sự thất vọng của ông về vấn đề này trong
tác phẩm The Wealth of Nations (Của cải của các quốc gia). Sau
khi chỉ trích mạnh mẽ chủ nghĩa trọng thương – hệ thống
quản lí và kế hoạch hoá của chính phủ hồi thế kỉ XVIII – ông đã
chán nản cho rằng thương mại tự do ở Anh khó như xây dựng
xã hội không tưởng vậy.
Ông cho rằng có hai nhân tố làm cho người ta không thể hi
vọng vào thành công của tự do kinh tế. “Không chỉ định kiến
của xã hội”, Smith nói, “mà những quyền lợi không thể tranh
cãi của nhiều người có sức chống đối không thể cưỡng lại
được”[3]. Sử dụng cụm từ “định kiến của xã hội”, Smith ám chỉ
việc nhiều người bình thường khó mà hiểu được những luận cứ
thường là trừu tượng và phức tạp của các nhà kinh tế học khi
họ chứng minh tính ưu việt của thị trường tự do so với những
hình thức can thiệp và kiểm soát khác nhau của chính phủ. Còn
cụm từ “những quyền lợi không thể tranh cãi của nhiều người”
ám chỉ những nhóm lợi ích đặc biệt được lợi từ những biện
pháp quản lí của chính phủ nhằm hạn chế hoặc ngăn chặn
cạnh tranh công khai, và vì vậy sẽ luôn tích cực vận động nhằm
giữ những biện pháp quản lí đó. Kết hợp lại, Smith lo sợ rằng,
hai tác nhân đó sẽ mãi mãi ngăn chặn không bao giờ để cho
logic của tự do kinh tế giành chiến thắng trên vũ đài của tư
tưởng và chính trị.
Tuy nhiên, trong thế kỉ XIX, đã có một người ủng hộ tự do,
ông đã làm chủ được nghệ thuật biến sự phức tạp của kinh tế
học thành dễ hiểu đối với những người dân bình thường: đấy là
nhà kinh tế theo trường phái tự do cổ điển người Pháp, Claude
Frédéric Bastiat (1801–1850). Nhiều nhà sử học chuyên về tư
tưởng kinh tế đã nhấn mạnh khả năng đặc biệt của Bastiat
trong việc làm xói mòn cơ sở của chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa
xã hội, và chủ nghĩa can thiệp.
Ví dụ, Alexander Gray viết: “Chưa từng có người nào khéo
léo đến như thế trong việc làm cho quan điểm của đối thủ trở
nên có vẻ ngu ngốc đến như thế. Ngay cả bây giờ, tác phẩm phù
du nhất của ông đọc vẫn thú, vì sự hóm hỉnh, sự châm biếm
sâu cay và cả sự trang nhã mà ông dùng để châm chích đối thủ
của mình”[4]. Lewis Haney cho rằng: “Văn phong của Bastiat
thú vị và trong sáng” và có sức “lôi cuốn quần chúng bằng
truyền thuyết và châm biếm”[5]. Eduard Heimann, một người
phê phán nền kinh tế thị trường, mô tả ông là: “Một cây bút có
tài, nổi tiếng thế giới với câu chuyện ngụ ngôn của ông về
những người làm nến, đã thỉnh cầu bảo hộ nhằm chống lại sự
cạnh tranh không lành mạnh của mặt trời để cộng đồng có thể
trở nên giàu có bằng cách làm giàu cho ngành của họ”[6].
Charles Gide và Charles Rist chỉ ra rằng: “Nếu những người
ủng hộ bảo hộ hiện đại không còn nói về 'ngập lụt hàng hoá'
hay 'sự xâm lược của hàng hoá nước ngoài' … chúng ta thường
quên rằng tất cả đều là do những cuốn sách mỏng nhưng tuyệt
vời do Bastiat viết… Không ai có thể chỉ ra với thái độ miệt thị
hơn cái mâu thuẫn nực cười của việc xẻ những trái núi chia cắt
đất nước nhằm tạo thuận lợi cho những vụ trao đổi, nhưng ở
mỗi đầu lại lập một hàng rào hải quan”[7]. Và mặc dù luận cứ
phản bác tư tưởng bảo hộ và tư tưởng tập thể của Bastiat trong
thời gian đó là rất sắc bén, William Scott nhấn mạnh rằng:
“thái độ của con người theo phái tự do này ở Pháp là bình tĩnh
và cao quý, và mặc dù chỉ trích rất mạnh ông cũng đánh giá cao
các động cơ của đối thủ. Ông tin vào ước muốn thúc đẩy sự
thịnh vượng xã hội của họ, nhưng ông muốn nói rằng họ đã
lầm lạc và tìm cách đưa họ vào đường ngay lối thẳng, nếu có
thể”[8].
Những phẩm chất này làm cho Joseph A. Schumpeter gọi
Bastiat là “Nhà báo viết về kinh tế nổi bật nhất cho đến
nay”[9]. Ludwig von Mises ca ngợi ông là “người có bút pháp
rất độc đáo, đọc ông là cả một niềm vui. … những lời phê phán
của ông đối với tất cả những biện pháp bảo hộ và những xu
hướng liên quan đến nó thì vẫn chưa ai vượt qua được. Những
người theo chính sách bảo hộ và can thiệp không thể phủ nhận
được. Họ đành phải lặp đi lặp lại: Bastiat rất 'hời hợt'”[10].
Một số người cầm bút đã bắt chước ông. Đầu thế kỉ XX, nhà
kinh tế học ủng hộ thị trường tự do người Pháp, Yves Guyot,
nói rằng cuốn sách mỏng của ông, Economic Prejudices (Những
định kiến về kinh tế), được viết theo phong cách của Claude
Frédéric Bastiat, với mục đích “[đặt ra] chân lí dưới hình thức
đơn giản, thuận tiện, dễ nhớ, nhằm phê phán những sai lầm
bằng những chứng minh mà người nào cũng có thể áp dụng”,
như Bastiat đã làm cách đó nửa thế kỉ[11]. Và chắc chắn là trong
thế kỉ XX, thành công nhất và có ảnh hưởng nhất trong việc áp
dụng phương pháp và cách tiếp cận của Bastiat là tác phẩm
Economics in One Lesson (Kinh tế học trong một bài học) của
Henry Hazlitt, trong đó tác giả cho biết: “Tác phẩm này có thể,
trên thực tế, được coi là sự hiện đại hoá, mở rộng và khái quát
hoá phương pháp được trình bày trong cuốn sách mỏng của
Bastiat, với nhan đề What Is Seen and What Is Not Seen (Cái nhìn
thấy và cái không nhìn thấy)”[12].
• • •
Claude Frédéric Bastiat sinh ngày 30 tháng 6 năm 1801, ở
Bayonne, nước Pháp, trong gia đình thương nhân có tiếng[13].
Mẹ ông qua đời khi ông mới lên bảy, chỉ hai năm sau bố ông
cũng qua đời, lúc đó Frédéric mới vừa tròn chín tuổi. Ông đã
được người cô nuôi nấng, bà cũng là người tìm cách cho ông
vào học ở trường Cao đẳng Sorèze khi ông vừa tròn 14 tuổi.
Nhưng năm 17 tuổi, ông bỏ học giữa chừng và vào làm cho
công ti thương mại của ông chú ở Bayonne. Chẳng bao lâu sau
ông đã đọc hết các tác phẩm của nhà kinh tế học theo trường
phái tự do cổ điển của Pháp là Jean–Baptiste Say, và những tác
phẩm này đã thay đổi cuộc đời và tư duy của ông[14]. Ông bắt
đầu nghiên cứu kinh tế chính trị học một cách nghiêm túc và
chẳng bao lâu sau đã tìm được rất nhiều tác phẩm của những
người cầm bút theo trường phái tự do cổ điển khác ở Pháp và ở
Anh.
Năm 1825, ông được thừa hưởng một điền trang nho nhỏ ở
Mugron, do ông nội để lại, và ở đó cho đến năm 1846 thì
chuyển hẳn về Paris. Trong những năm 1820, Bastiat dành
phần lớn thời gian để đọc sách báo viết về nhiều đề tài khác
nhau, ngoài ra ông còn chia sẻ sách vở và tư tưởng với người
bạn tên là Félix Coudroy. Dường như Coudroy là người có
khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, và Bastiat bắt đầu hoàn thiện
kĩ năng tư duy và viết một cách mạch lạc bằng cách đưa ra
những lập luận mà cuối cùng đã thuyết phục được người bạn
ngả sang triết lí tự do.
Cuối những năm 1820 và trong những năm 1830, ông bắt
đầu viết những cuốn chuyên khảo và những bài tiểu luận về
những chủ đề kinh tế khác nhau. Nhưng phải đến năm 1844,
ông mới có danh tiếng thực sự, đấy là khi ông xuất bản một bài
báo dài nhằm ủng hộ thương mại tự do và sau đó là một chuyên
khảo về Cobden và tác phẩm League: The English Movement for
Free Trade (tạm dịch: Liên đoàn: Phong trào ủng hộ thương
mại tự do ở Anh). Trong quá trình viết những tác phẩm này,
Bastiat bắt đầu trao đổi thư từ với Richard Cobden, một trong
những nhà lãnh đạo chính của Liên đoàn chống Luật ngũ cốc,
tức là hiệp hội đòi bãi bỏ tất cả các rào cản đối với thương mại
tự do. Hai người ủng hộ tự do kinh tế nhanh chóng trở thành
bạn bè và hỗ trợ nhau trong sự nghiệp vì tự do.
Thành công của những tác phẩm này và cảm hứng từ thành
công của những hoạt động ủng hộ thương mại tự do của
Cobden trong việc chấm dứt chính sách bảo hộ nông nghiệp ở
Anh vào năm 1846 đã dẫn đến kết quả là Bastiat chuyển hẳn về
Paris để thành lập Hiệp hội thương mại tự do ở Pháp và cho ra
đời tờ Le Libre Échange, ủng hộ sự nghiệp của Hiệp hội[15].
Bastiat làm việc nhằm tổ chức và tuyên truyền cho tự do
thương mại liên tục trong hai năm. Ban đầu ông đã lôi kéo được
khá nhiều người làm trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp
hỗ trợ các hoạt động của mình, trong đó có đóng góp những
bài phát biểu, xây dựng pháp luật cho việc bãi bỏ chủ nghĩa bảo
hộ của Pháp và viết sách báo nhằm chuyển hoá tư tưởng của
công luận. Nhưng không có kết quả. Có quá nhiều nhóm lợi ích
đặc biệt được hưởng lợi từ những ưu đãi của chính phủ và ông
không thể làm cho quần chúng thường xuyên quan tâm tới
những hoạt động của mình. Dường như Adam Smith đã đúng
khi phàn nàn về những định kiến của công chúng và sức mạnh
của các nhóm lợi ích, ít nhất là ở Pháp.
Sau cuộc cách mạng Tháng 2 năm 1848, Bastiat bắt đầu sự
nghiệp trong lĩnh vực chính trị, ban đầu là trong Quốc hội lập
hiến và sau đó trong Quốc hội. Sau khi đã dành hầu hết các tác
phẩm trước đây của mình nhằm chứng minh những sai lầm
trong những luận cứ của chủ nghĩa bảo hộ, Bastiat chuyển sự
chú ý của mình tới kẻ thù mới của tự do kinh tế: chủ nghĩa xã
hội. Ông đã tung ra những bài phát biểu mạnh mẽ nhằm chống
lại những chương trình về lao động xã hội, tức là những
chương trình bảo đảm công ăn việc làm trên toàn quốc, những
đề xuất về tái phân phối của cải, về quốc hữu hoá lĩnh vực công
nghiệp và những luận cứ nhằm mở rộng việc kiểm soát của bộ
máy hành chính quan liêu đối với đời sống xã hội và đời sống
kinh tế. Nhưng vì bệnh lao nặng làm cho giọng nói của ông
ngày càng yếu đi, ông lại quay sang lĩnh vực viết lách và đã viết
được nhiều bài tiểu luận thể hiện rõ những điều vô lí trong luận
cứ của những người xã hội chủ nghĩa.
Lần cuối cùng Bastiat xuất hiện ở Quốc hội là vào tháng 2
năm 1850. Mùa xuân năm đó sức khoẻ của ông xấu đi trông
thấy, buộc ông phải từ bỏ trách nhiệm trong Quốc hội và sống
cả mùa hè ở vùng núi Pyrénées, miền Nam nước Pháp. Ông trở
về Paris vào tháng 9 và đi thăm những người cùng ủng hộ sự
nghiệp thương mại tự do, trước khi qua Italy để tìm thuốc điều
trị bệnh lao. Ông qua đời ở Rome vào ngày 24 tháng 12 năm
1850, ở tuổi 49.
Di sản trí tuệ của Claude Frédéric Bastiat trong cuộc đấu
tranh cho nền kinh tế tự do được in thành ba tập. Hai cuốn là
bộ sưu tập những bài tiểu luận và những bài báo dí dỏm, sâu
cay và thấu triệt nhất của ông và đã được dịch sang tiếng Anh
với nhan đề Economic Sophisms[16] (tạm dịch: Những nguỵ biện
trong kinh tế học), và Selected Essays on Political Economy[17]
(tạm dịch: Những bài tiểu luận chọn lọc về kinh tế chính trị
học). Trong những năm cuối đời, Bastiat dành một phần thời
gian cho công trình bàn về triết học xã hội và những nguyên
tắc của kinh tế học, được xuất bản dưới nhan đề Economic
Harmonies[18] (tạm dịch: Hài hoà về kinh tế).
Henry Hazlitt đã đúng khi nhấn mạnh rằng những ý tưởng
quan trọng nhất trong nhiều tác phẩm của Bastiat được thể
hiện trong bài tiểu luận nhan đề “What Is Seen and What Is
Not Seen” (Cái nhìn thấy và cái không nhìn thấy), đấy là tác
phẩm cuối cùng ông viết trước khi qua đời[19]. Ông chỉ ra rằng
ảnh hưởng trong ngắn hạn của bất kì hành động hay chính
sách nào thường khác hẳn với hậu quả mà nó gây ra trong dài
hạn, và rằng, những hậu quả trong tương lai xa xôi đó, trên
thực tế, có thể trái ngược với những điều người ta từng hi vọng
hay lập kế hoạch lúc ban đầu.
Bastiat có thể áp dụng nguyên tắc của cái nhìn thấy và cái
không nhìn thấy vào thuế khoá và công việc của chính phủ. Khi
chính phủ đánh thuế, cái nhìn thấy là những công nhân có việc
làm và kết quả của sức lao động của họ: một con đường, một
cây cầu hay một con kênh được xây dựng. Cái không nhìn thấy
là tất cả những thứ có thể được sản xuất nếu người ta không
thu thuế của những người làm trong lĩnh vực tư nhân và nếu
những nguồn tài nguyên và lao động làm việc cho chính phủ
được tự do phục vụ nhu cầu của những công dân kia. Bastiat
giải thích rằng chính phủ chẳng làm được gì nếu không lấy các
nguồn lực và lao động mà lĩnh vực tư đang sử dụng.
Quan điểm thấu triệt, đơn giản và cực kì quan trọng đó là vũ
khí mang tính lí thuyết, nhờ đó Bastiat có thể chỉ ra những sai
lầm và mâu thuẫn trong những tư tưởng của cả phái bảo hộ lẫn
phái xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong những bài tiểu luận như
“Phong phú và khan hiếm”, “Trở ngại vật và nguyên nhân”,
và “Nỗ lực và kết quả”, ông chỉ ra rằng các rào cản và những
biện pháp cấm đoán thương mại tự do chỉ dẫn tới đói nghèo mà
thôi[20]. Ông nhấn mạnh rằng mỗi người trong chúng ta vừa là
người tiêu dùng vừa là người sản xuất.
Muốn tiêu thụ một món đồ, chúng ta phải tự làm hoặc làm
ra một món hàng khác mà chúng ta nghĩ rằng một người nào
đó sẽ trao đổi với món hàng mà chúng ta muốn. Là người tiêu
dùng, chúng ta muốn càng có nhiều hàng và giá càng rẻ thì
càng tốt. Nói cách khác, chúng ta muốn dư dật. Nhưng, là
người sản xuất, chúng ta lại muốn món hàng mà chúng ta đưa
ra thị trường ở trong tình trạng khan hiếm. Trong thị trường
cạnh tranh công khai, nơi mà tất cả các cuộc trao đổi đều là tự
nguyện, cách duy nhất để “tóm được” khách hàng và kiếm
được thu nhập tạo điều kiện cho mỗi người chúng ta, đến lượt
mình, trở thành người tiêu dùng, là cung cấp nhiều hàng hoá
hơn, tốt hơn, rẻ hơn đối thủ cạnh tranh của mình. Bastiat cảnh
báo rằng thay thế cho phương pháp này là mỗi người chúng ta,
như người sản xuất, quay sang đề nghị chính phủ cho chúng ta
những thứ thuộc quyền sở hữu của những người hàng xóm của
chúng ta, tức là những thứ mà chúng ta không thể nhận được
thông qua trao đổi hoà bình, bất bạo động trên thị trường.
Đây là đường ranh giới nổi tiếng mà Bastiat vạch ra giữa
cướp bóc bất hợp pháp và cướp bóc hợp pháp, cũng là trọng
tâm của tác phẩm Luật pháp[21]. Mục đích của chính phủ, ông
nói, chính là bảo ...
Phạm Nguyên Trường dịch; Nxb Tri thức 2016; 176 trang
Bản tiếng Việt © 2015 NXB Tri thức
Dịch theo bản tiếng Anh The Law do Dean Russell dịch,
Foundation for Economic Education, Irvington–on–Hudson,
New York; tham khảo bản dịch tiếng Nga của S. A. Nikolaev
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Staff: tve
Sách: Silence00
Scan: Thanhbt
Biên tập & Ebook: Ngọc Anh
Claude Frédéric Bastiat
(1801–1850)
Lời Nhà Xuất Bản
Nhà xuất bản Tri thức trân trọng giới thiệu cuốn Luật pháp
(bản tiếng Anh The Law do Dean Russell dịch, Foundation for
Economic Education, Irvington–on–Hudson, New York; tham
khảo bản dịch tiếng Nga của S. A. Nikolaev) của Claude Frédéric
Bastiat, do dịch giả Phạm Nguyên Trường dịch. Xin bạn đọc lưu
ý đây là tài liệu tham khảo dành cho giới nghiên cứu chứ không
thuộc loại sách phổ biến kiến thức. Vì dịch giả là người có uy tín
trong giới dịch thuật nên chúng tôi không tổ chức hiệu đính,
không can thiệp vào cách diễn đạt và các thuật ngữ chuyên
môn.
Trong bản dịch này, chúng tôi trân trọng trích dẫn, giới
thiệu đến bạn đọc Lời giới thiệu của Giáo sư kinh tế học Walter
E. Williams. Ông đã có những phân tích sâu sắc, xác đáng về
tầm tư tưởng của Claude Frédéric Bastiat.
Chúng tôi tôn trọng, nhưng không nhất thiết đồng tình với
quan điểm, cách tiếp cận và lí giải riêng của tác giả về các vấn
đề được đề cập đến trong cuốn sách.
Chúng tôi mong độc giả đọc cuốn sách này như một tài liệu
tham khảo với tinh thần phê phán và khai phóng.
Nhà xuất bản xin trân trọng đề nghị bạn đọc xem Lời người
dịch, trước khi đọc vào phần chính văn, để hiểu đúng khái
niệm “Chủ nghĩa xã hội”, “Chủ nghĩa cộng sản” được trình
bày trong cuốn sách này.
Xin chân thành cảm ơn!
Lời người dịch
Bạn đọc đang cầm trên tay một trong các tác phẩm quan
trọng nhất của Claude Frédéric Bastiat (1801–1850), cũng là
một trong những tác phẩm gối đầu giường của những người
theo trường phái tự do cá nhân ở phương Tây. Chỉ có một điều
đáng tiếc: tác phẩm này được dịch từ tiếng Anh chứ không phải
từ tiếng Pháp. Tôi nhận thức được rằng như thế là thiếu sót lớn,
nhưng đây là một tác phẩm hay và súc tích đến nỗi tôi không
thể không chia sẻ cũng như không thể chờ đợi lâu hơn được
nữa dù biết rằng sai sót là khó tránh khỏi. Để khắc phục phần
nào, tôi đã tham khảo bản dịch tiếng Nga (cũng dịch từ tiếng
Anh) của S. A. Nikolaev và đưa thêm vào phần Lời giới thiệu
cho bản dịch tiếng Nga do dịch giả Anton Newmark viết.
Văn của Claude Frédéric Bastiat sáng sủa, cô đọng, mạch lạc
và dễ hiểu đến mức chẳng cần giải thích gì thêm, chỉ xin bạn
đọc lưu ý một điều: tác phẩm này được xuất bản năm 1850, tức
là cách lần xuất bản đầu tiên bằng tiếng Việt đúng 165 năm,
nhiều thuật ngữ thời đó, như chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản… có nội hàm chắc chắn là khác với cách hiểu của chúng ta
ngày nay.
Thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội” mà Bastiat sử dụng trong
sách này và cũng là đối tượng ông phê phán rõ ràng rất khác so
với thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội” đang được sử dụng hiện nay
tại Việt Nam. Chẳng hạn ở khía cạnh thể chế kinh tế: Chủ nghĩa
xã hội ở giữa thế kỉ XIX coi nền kinh tế thị trường là công cụ
bóc lột của Chủ nghĩa tư bản cần phải được loại trừ tận gốc, thì
ngày nay ở Việt Nam nó đã được chấp nhận. Thực tế là, để thực
hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”, Việt Nam đã chủ trương phát triển một nền kinh tế thị
trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập quốc tế, kết hợp với một Nhà
nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chắc hẳn bạn đọc nhận thức được sự khác biệt đó và có thể
rút ra những đánh giá và nhận xét phù hợp của riêng mình. Chỉ
có khát vọng về tự do của Claude Frédéric Bastiat là không
khác, là còn lại mãi với thời gian, và đó là điều mà tất cả chúng
ta cùng trân trọng. Ludwig von Mises (1881–1973) ca ngợi ông
là “người có bút pháp rất độc đáo, đọc ông là cả một niềm vui.
…” và không có lí do gì khiến tôi có thể trì hoãn lâu hơn nữa
niềm vui của bạn đọc.
Tôi xin được cảm ơn Nhà xuất bản Tri thức đã giúp tôi đưa
tác phẩm quý giá này đến với bạn đọc. Và cảm ơn chính bạn
đọc, người đã cổ vũ và đồng hành với tôi trong suốt mấy năm
qua.
Lời giới thiệu của Walter E. Williams[1]
(Trích)
Phải đến năm bốn mươi tuổi tôi mới đọc tác phẩm kinh điển
Luật pháp của Claude Frédéric Bastiat. Tôi mãi mãi mang ơn,
một người mà tôi không biết tên, đã gửi cho tôi cuốn sách này.
Sau khi đọc, tôi tin rằng chưa đọc Bastiat thì hiểu về tự do vẫn
chưa thể nói là trọn vẹn. Đọc Bastiat khiến tôi nhận thức sâu
sắc về khoảng thời gian lãng phí, cùng những thất vọng về quá
trình lạc lối giữa những con đường không lối thoát khi đi tìm
triết lí cho cuộc đời mình. Đối với tôi, tác phẩm Luật pháp
không tạo ra sự chuyển biến về mặt triết học nhiều như nó
từng tạo lập trật tự trong suy nghĩ của tôi về tự do và cách hành
xử đúng đắn của con người.
Nhiều nhà triết học đã có những đóng góp quan trọng vào
cuộc thảo luận về tự do, Bastiat nằm trong số đó. Nhưng đóng
góp lớn nhất của ông là đã đưa cuộc thảo luận ra khỏi tháp ngà
và làm cho tư tưởng về tự do trở nên rõ ràng đến mức ngay cả
những người không biết chữ cũng có thể hiểu, còn những
người sùng bái nhà nước thì không thể che giấu được. Rõ ràng,
việc thuyết phục nhân dân về tính ưu việt trên phương diện đạo
đức của tự do cá nhân là công việc cực kì quan trọng.
Giống như nhiều người, Bastiat cho rằng chính phủ là mối
đe doạ lớn nhất đối với tự do. Xin lưu ý, sự mạch lạc trong ngôn
ngữ của ông giúp chúng ta nhận ra và hiểu những hành động
xấu xa của chính phủ được hợp pháp hoá. Bastiat viết: “Chỉ cần
xem luật pháp có lấy những cái thuộc về một số người nào đó
và đem cho những người mà chúng không thuộc về. Chỉ cần
xem luật pháp có làm lợi cho công dân này mà công dân khác
phải trả giá bằng cách làm cái điều mà tự người công dân kia
không thể làm mà không phạm tội”. Với cách mô tả chính xác
như thế về hành động xấu xa được hợp pháp hoá, chúng ta
không thể không kết luận rằng hầu hết các hoạt động của
chính phủ, trong đó có chính phủ của chúng ta, là cướp bóc
được hợp pháp hoá, hoặc dùng ngôn ngữ hiện đại là ăn cắp
được hợp pháp hoá.
Claude Frédéric Bastiat có thể dễ trở thành người đồng hành
với những người đã kí tên vào bản Tuyên ngôn Độc lập của
nước ta. Quan điểm về tự do và vai trò thích hợp của chính phủ
của những người đã kí vào bản Tuyên ngôn Độc lập thể hiện rõ
trong câu nói bất hủ: “Chúng tôi khẳng định một chân lí hiển
nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng Tạo hoá đã
ban cho họ một số quyền bất khả tương nhượng, trong đó có
quyền sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Rằng các chính phủ được lập ra là để bảo đảm cho những quyền
này…”. Bastiat chia sẻ quan điểm hệt như thế khi viết: “Đời
sống, năng lực, sản xuất – nói cách khác, cá tính, tự do, tài sản
– chính là con người. Và bất chấp sự xảo quyệt của các nhà lãnh
đạo chính trị khéo léo, ba món quà của Chúa vẫn có trước và
đứng trên luật lệ do con người đặt ra”.
Bastiat gán cho chính phủ những lí do tương tự như các Nhà
Lập quốc Mĩ, khi viết: “Cuộc sống, quyền tự do và tài sản tồn
tại trên đời không phải vì con người đã làm ra luật pháp. Ngược
lại, sự kiện là cuộc sống, quyền tự do và tài sản đã có từ trước,
và điều đó buộc người ta phải coi luật pháp là tối thượng”.
Không có lời tuyên bố nào về những quyền tự nhiên được Chúa
ban cho hay hơn là những lời lẽ trong Tuyên ngôn Độc lập của
Mĩ và trong tác phẩm Luật pháp của Bastiat.
Bastiat gắn hi vọng về tự do vào nước Mĩ khi ông viết: “…
Hãy nhìn vào nước Mĩ. Không có quốc gia nào trên thế giới mà
luật pháp lại được thể hiện khuôn khổ thích hợp đến như thế:
Bảo vệ quyền tự do và tài sản của mỗi người. Kết quả là, dường
như không có quốc gia nào trên thế giới mà trật tự xã hội lại
được xây dựng trên nền tảng vững chắc đến như thế”. Năm
1850, Bastiat nhận xét rằng có hai vấn đề mà Mĩ còn thiếu sót:
“Nô lệ là vi phạm – bằng luật pháp luật – quyền tự do. Thuế
xuất nhập khẩu có tính bảo hộ là vi phạm – bằng luật pháp –
quyền sở hữu tài sản”.
Nếu Bastiat còn sống đến ngày hôm nay thì hẳn là ông sẽ
thất vọng trước việc chúng ta không thể giữ luật pháp trong
khuôn khổ thích hợp của nó. Trong suốt hơn một thế kỉ rưỡi
vừa qua, chúng ta đã tạo ra hơn 50.000 bộ luật. Hầu hết trong
số đó cho phép nhà nước sử dụng bạo lực chống lại những
người chưa từng sử dụng bạo lực để chống lại những người
khác. Đấy là những bộ luật như cấm hút thuốc lá ở các cơ sở tư
nhân và “đóng góp” cho an sinh xã hội đến luật về môn bài và
luật lương tối thiểu. Trong mỗi trường hợp, người kiên quyết
đòi hỏi và bảo vệ quyền do Chúa ban cho mình là được ở một
mình.
[…]
Lời giới thiệu cho bản dịch tiếng Nga của S. A.
Nikolaev
Đây là tác phẩm mở đầu cho một loạt ấn bản nói về quyền tự
do cá nhân – tự do theo nghĩa ban đầu và đúng đắn của từ này.
Hôm nay, nước Nga rơi vào tình trạng là trên đống tro tàn
của hệ thống cộng sản đã sụp đổ đang xuất hiện hệ thống quản
lí nhà nước mới, nhưng lại rất giống với hệ thống cũ. Mặc dù bộ
máy nhà nước mới được gọi bằng tên khác và tuyên bố những
nguyên tắc mới, về mặt hình thức cho phép công dân làm
những việc mà trước đây bị coi là tội phạm, nhưng bên cạnh
bánh lái của nó thường vẫn là những con người cũ, dựa vào
khối quần chúng cũ, những người đã sống và làm việc, suy
nghĩ và hành động như trong thời “xã hội chủ nghĩa”. Bộ máy
quản lí hành chính quan liêu hiện đại của nước Nga với tất cả
các lực lượng an ninh và hàng triệu cán bộ của nó, dường như
đã lớn hơn bộ máy đó trong phần còn lại của thế giới, nhưng
chúng ta vẫn có cơ hội thoát khỏi con đường phát triển đang
dẫn tới một hình thức mới của chính phủ độc tài toàn trị.
Mối quan hệ giữa công dân và nhà nước ở nước Nga hiện đại
đã quay lại với sơ đồ thường thấy: “Nhà nước mạnh – Công dân
ngoan”. Dường như chúng ta vẫn còn đang được thở với phần
còn lại của bầu không khí tự do mà chúng ta nhận được từ năm
1991. Các nhà chức trách mới chưa kịp đưa chúng ta trở lại với
mô hình toàn trị cũ và cũng chưa kịp xây dựng khuôn mẫu của
cái gọi là xã hội “dân chủ” phương Tây hiện đại. Người ta thậm
chí còn chưa cấy vào đầu óc của chúng ta thái độ tuân phục vô
điều kiện những người cai trị nhân danh “nhân dân”. Chúng ta
còn chưa tôn trọng nhà nước như những kẻ đang nắm quyền
muốn, chưa thích đóng thuế và thỉnh thoảng vẫn chỉ trích bộ
máy quan liêu. Có lẽ, mặc dù có lịch sử toàn trị lâu dài, ở đâu đó
trong trái tim, chúng ta – vẫn là những người tự do. Tạm thời
là thế.
Trong nhân dân chúng ta vẫn chưa phát triển cảm giác tự
nhiên và trách nhiệm đóng thuế, những khoản thuế mà đúng
ra nên gọi là “cướp bóc hợp pháp”. Trong lúc các doanh nghiệp
và các công ti phải nằm dưới sự kiểm soát liên tục và gắt gao
của những cơ quan nhà nước và bị đe doạ phạt tiền và truy tố,
phải nộp thuế quá cao vào kho bạc không đáy của nhà nước,
sau đó các khoản tiền hào phóng đó được phân phát cho những
nhóm lợi ích, thì các cá nhân –những người bình thường, vẫn
trao đổi hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở tự nguyện mà không
cần quan tâm tới nhà nước. Họ xây dựng các mối quan hệ với
nhau mà không sợ nhà nước và cho đó là hoàn toàn tự nhiên (ví
dụ người ta đi xe của các lái xe tư nhân, sửa chữa xe trong
xưởng sửa chữa tư nhân, thuê các đội xây dựng và thợ thủ công
và mua những món hàng ở chợ mà không phải đóng “thuế”).
Không ai nghĩ đến chuyện phải nộp cho nhà nước một phần khi
bán cho nhau theo thoả thuận hoặc nộp vào “ngân sách”
khoản tiền kiếm được bằng lao động trung thực khi bán một ít
khoai tây mà chúng ta trồng được ở trong vườn. Nghe có vẻ lạ,
nhưng ở nhiều nước (trong đó có Mĩ) làm như thế bị coi là tội
phạm. Thế mà gọi là tự do ư?
Hiện nay không phải tất cả các công dân Nga đều coi việc
báo cáo về thu nhập của mình với nhà nước là “bình thường” –
tương tự báo cáo với bọn bảo kê, như người phương Tây thường
làm –và nộp cái khoản đóng góp đáng xấu hổ – gọi là “thuế”.
Hiện nay chúng ta chưa có hệ thống chỉ điểm mới khi nói đến
“hiện tượng che giấu thu nhập”.
Nhiều người không bị nhà nước quấy rầy đã tích cực xây
dựng cuộc sống của mình; đấy là những người tạo dựng hạnh
phúc cá nhân bằng chính sức lực của mình và không còn đòi
hỏi nhà nước phải bảo đảm cuộc sống của mình bằng những
khoản thuế do người khác đóng.
Và mặc dù ngày nào chúng ta cũng bắt gặp sự tuỳ tiện của
các quan chức và chúng ta vẫn còn phụ thuộc vào quyết định
của bộ máy hành chính quan liêu, việc hành xử thiếu tôn trọng
luật pháp mà không bị trừng phạt của những người nắm quyền
lực, nhà nước mới của nước Nga vẫn chưa tạo ra hệ tư tưởng về
thuế khoá như nó đang hiện diện ở các nước khác. Nhưng
chúng ta đang có nguy cơ là một lần nữa sẽ lại rơi vào vực thẳm
của cướp bóc hợp pháp và phải chấp hành tất cả các mệnh lệnh
của nhà nước.
Nhà nước có nhiều khuôn mặt nhưng bản chất thì bao giờ
cũng là một. Nó luôn hành động bằng cách cưỡng bức người
dân. Tên nó là gì: chế độ quân chủ, chế độ độc tài hay dân chủ,
không phải là quan trọng – bản chất của nó bao giờ cũng là
một. Một nhóm người nhận được (hay cướp được) quyền cai trị
những người khác nhân danh chính những người đó hoặc nhân
danh “đa số” và cai trị một cách vui vẻ, đồng thời kiếm lợi cho
bản thân mình.
Có lẽ tất cả chúng ta đều muốn được tự do và tương tác với
những người khác trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi. Không ai
muốn trở thành nô lệ cho người khác hay cho một nhóm người
nào đó. Nhưng thường thì chúng ta không nhận thấy tự do của
chúng ta kết thúc ở chỗ nào và ép buộc bắt đầu từ đâu.
Hôm nay chúng ta cất lên tiếng nói của mình nhằm bảo vệ
quyền tự do của chúng ta, đòi nhà nước không can thiệp vào
công việc của chúng ta, chấm dứt việc áp đặt từ phía nhà nước
bất cứ việc gì. Chúng ta nói: “Mọi người về bản chất đều là
người tự do. Bản chất của con người là thông minh và tự mình
tạo ra hạnh phúc cho chính mình. Nhà nước, các quan chức nhà
nước và các nhà lập pháp hãy để chúng tôi yên!”
Tất cả các nguyên lí được trình bày trong cuốn sách này đã
được lịch sử thế kỉ XIX và XX khẳng định. Tất cả các dự đoán
của Bastiat, ngược lại với những người ủng hộ các hệ thống
chính phủ khác nhau (trong đó có cộng sản, chủ nghĩa xã hội
và dân chủ), đã trở thành sự thật.
Cuộc nội chiến ở Mĩ, các cuộc cách mạng và các cuộc đảo
chính, quá trình hấp hối và sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội – là
khẳng định trên thực tế của những kết luận hợp logic của ông.
Nếu lí thuyết được kinh nghiệm khẳng định thì đấy là lí
thuyết đúng. Nếu lí thuyết, bên cạnh đó, còn được xây dựng
trên cơ sở phân tích chính nền tảng của nhân loại – trên bản
chất của chính con người – thì nó còn đúng hơn nữa. Xin hãy
cố gắng hiểu nó không chỉ bằng cảm giác, mà còn bằng đầu óc
vì nó hợp lí và công chính đến từng từ.
Anton Newmark
Dẫn nhập
Richard Ebeling[2]
Bảo vệ tự do kinh tế chưa bao giờ là nhiệm vụ dễ dàng.
Adam Smith bày tỏ sự thất vọng của ông về vấn đề này trong
tác phẩm The Wealth of Nations (Của cải của các quốc gia). Sau
khi chỉ trích mạnh mẽ chủ nghĩa trọng thương – hệ thống
quản lí và kế hoạch hoá của chính phủ hồi thế kỉ XVIII – ông đã
chán nản cho rằng thương mại tự do ở Anh khó như xây dựng
xã hội không tưởng vậy.
Ông cho rằng có hai nhân tố làm cho người ta không thể hi
vọng vào thành công của tự do kinh tế. “Không chỉ định kiến
của xã hội”, Smith nói, “mà những quyền lợi không thể tranh
cãi của nhiều người có sức chống đối không thể cưỡng lại
được”[3]. Sử dụng cụm từ “định kiến của xã hội”, Smith ám chỉ
việc nhiều người bình thường khó mà hiểu được những luận cứ
thường là trừu tượng và phức tạp của các nhà kinh tế học khi
họ chứng minh tính ưu việt của thị trường tự do so với những
hình thức can thiệp và kiểm soát khác nhau của chính phủ. Còn
cụm từ “những quyền lợi không thể tranh cãi của nhiều người”
ám chỉ những nhóm lợi ích đặc biệt được lợi từ những biện
pháp quản lí của chính phủ nhằm hạn chế hoặc ngăn chặn
cạnh tranh công khai, và vì vậy sẽ luôn tích cực vận động nhằm
giữ những biện pháp quản lí đó. Kết hợp lại, Smith lo sợ rằng,
hai tác nhân đó sẽ mãi mãi ngăn chặn không bao giờ để cho
logic của tự do kinh tế giành chiến thắng trên vũ đài của tư
tưởng và chính trị.
Tuy nhiên, trong thế kỉ XIX, đã có một người ủng hộ tự do,
ông đã làm chủ được nghệ thuật biến sự phức tạp của kinh tế
học thành dễ hiểu đối với những người dân bình thường: đấy là
nhà kinh tế theo trường phái tự do cổ điển người Pháp, Claude
Frédéric Bastiat (1801–1850). Nhiều nhà sử học chuyên về tư
tưởng kinh tế đã nhấn mạnh khả năng đặc biệt của Bastiat
trong việc làm xói mòn cơ sở của chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa
xã hội, và chủ nghĩa can thiệp.
Ví dụ, Alexander Gray viết: “Chưa từng có người nào khéo
léo đến như thế trong việc làm cho quan điểm của đối thủ trở
nên có vẻ ngu ngốc đến như thế. Ngay cả bây giờ, tác phẩm phù
du nhất của ông đọc vẫn thú, vì sự hóm hỉnh, sự châm biếm
sâu cay và cả sự trang nhã mà ông dùng để châm chích đối thủ
của mình”[4]. Lewis Haney cho rằng: “Văn phong của Bastiat
thú vị và trong sáng” và có sức “lôi cuốn quần chúng bằng
truyền thuyết và châm biếm”[5]. Eduard Heimann, một người
phê phán nền kinh tế thị trường, mô tả ông là: “Một cây bút có
tài, nổi tiếng thế giới với câu chuyện ngụ ngôn của ông về
những người làm nến, đã thỉnh cầu bảo hộ nhằm chống lại sự
cạnh tranh không lành mạnh của mặt trời để cộng đồng có thể
trở nên giàu có bằng cách làm giàu cho ngành của họ”[6].
Charles Gide và Charles Rist chỉ ra rằng: “Nếu những người
ủng hộ bảo hộ hiện đại không còn nói về 'ngập lụt hàng hoá'
hay 'sự xâm lược của hàng hoá nước ngoài' … chúng ta thường
quên rằng tất cả đều là do những cuốn sách mỏng nhưng tuyệt
vời do Bastiat viết… Không ai có thể chỉ ra với thái độ miệt thị
hơn cái mâu thuẫn nực cười của việc xẻ những trái núi chia cắt
đất nước nhằm tạo thuận lợi cho những vụ trao đổi, nhưng ở
mỗi đầu lại lập một hàng rào hải quan”[7]. Và mặc dù luận cứ
phản bác tư tưởng bảo hộ và tư tưởng tập thể của Bastiat trong
thời gian đó là rất sắc bén, William Scott nhấn mạnh rằng:
“thái độ của con người theo phái tự do này ở Pháp là bình tĩnh
và cao quý, và mặc dù chỉ trích rất mạnh ông cũng đánh giá cao
các động cơ của đối thủ. Ông tin vào ước muốn thúc đẩy sự
thịnh vượng xã hội của họ, nhưng ông muốn nói rằng họ đã
lầm lạc và tìm cách đưa họ vào đường ngay lối thẳng, nếu có
thể”[8].
Những phẩm chất này làm cho Joseph A. Schumpeter gọi
Bastiat là “Nhà báo viết về kinh tế nổi bật nhất cho đến
nay”[9]. Ludwig von Mises ca ngợi ông là “người có bút pháp
rất độc đáo, đọc ông là cả một niềm vui. … những lời phê phán
của ông đối với tất cả những biện pháp bảo hộ và những xu
hướng liên quan đến nó thì vẫn chưa ai vượt qua được. Những
người theo chính sách bảo hộ và can thiệp không thể phủ nhận
được. Họ đành phải lặp đi lặp lại: Bastiat rất 'hời hợt'”[10].
Một số người cầm bút đã bắt chước ông. Đầu thế kỉ XX, nhà
kinh tế học ủng hộ thị trường tự do người Pháp, Yves Guyot,
nói rằng cuốn sách mỏng của ông, Economic Prejudices (Những
định kiến về kinh tế), được viết theo phong cách của Claude
Frédéric Bastiat, với mục đích “[đặt ra] chân lí dưới hình thức
đơn giản, thuận tiện, dễ nhớ, nhằm phê phán những sai lầm
bằng những chứng minh mà người nào cũng có thể áp dụng”,
như Bastiat đã làm cách đó nửa thế kỉ[11]. Và chắc chắn là trong
thế kỉ XX, thành công nhất và có ảnh hưởng nhất trong việc áp
dụng phương pháp và cách tiếp cận của Bastiat là tác phẩm
Economics in One Lesson (Kinh tế học trong một bài học) của
Henry Hazlitt, trong đó tác giả cho biết: “Tác phẩm này có thể,
trên thực tế, được coi là sự hiện đại hoá, mở rộng và khái quát
hoá phương pháp được trình bày trong cuốn sách mỏng của
Bastiat, với nhan đề What Is Seen and What Is Not Seen (Cái nhìn
thấy và cái không nhìn thấy)”[12].
• • •
Claude Frédéric Bastiat sinh ngày 30 tháng 6 năm 1801, ở
Bayonne, nước Pháp, trong gia đình thương nhân có tiếng[13].
Mẹ ông qua đời khi ông mới lên bảy, chỉ hai năm sau bố ông
cũng qua đời, lúc đó Frédéric mới vừa tròn chín tuổi. Ông đã
được người cô nuôi nấng, bà cũng là người tìm cách cho ông
vào học ở trường Cao đẳng Sorèze khi ông vừa tròn 14 tuổi.
Nhưng năm 17 tuổi, ông bỏ học giữa chừng và vào làm cho
công ti thương mại của ông chú ở Bayonne. Chẳng bao lâu sau
ông đã đọc hết các tác phẩm của nhà kinh tế học theo trường
phái tự do cổ điển của Pháp là Jean–Baptiste Say, và những tác
phẩm này đã thay đổi cuộc đời và tư duy của ông[14]. Ông bắt
đầu nghiên cứu kinh tế chính trị học một cách nghiêm túc và
chẳng bao lâu sau đã tìm được rất nhiều tác phẩm của những
người cầm bút theo trường phái tự do cổ điển khác ở Pháp và ở
Anh.
Năm 1825, ông được thừa hưởng một điền trang nho nhỏ ở
Mugron, do ông nội để lại, và ở đó cho đến năm 1846 thì
chuyển hẳn về Paris. Trong những năm 1820, Bastiat dành
phần lớn thời gian để đọc sách báo viết về nhiều đề tài khác
nhau, ngoài ra ông còn chia sẻ sách vở và tư tưởng với người
bạn tên là Félix Coudroy. Dường như Coudroy là người có
khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, và Bastiat bắt đầu hoàn thiện
kĩ năng tư duy và viết một cách mạch lạc bằng cách đưa ra
những lập luận mà cuối cùng đã thuyết phục được người bạn
ngả sang triết lí tự do.
Cuối những năm 1820 và trong những năm 1830, ông bắt
đầu viết những cuốn chuyên khảo và những bài tiểu luận về
những chủ đề kinh tế khác nhau. Nhưng phải đến năm 1844,
ông mới có danh tiếng thực sự, đấy là khi ông xuất bản một bài
báo dài nhằm ủng hộ thương mại tự do và sau đó là một chuyên
khảo về Cobden và tác phẩm League: The English Movement for
Free Trade (tạm dịch: Liên đoàn: Phong trào ủng hộ thương
mại tự do ở Anh). Trong quá trình viết những tác phẩm này,
Bastiat bắt đầu trao đổi thư từ với Richard Cobden, một trong
những nhà lãnh đạo chính của Liên đoàn chống Luật ngũ cốc,
tức là hiệp hội đòi bãi bỏ tất cả các rào cản đối với thương mại
tự do. Hai người ủng hộ tự do kinh tế nhanh chóng trở thành
bạn bè và hỗ trợ nhau trong sự nghiệp vì tự do.
Thành công của những tác phẩm này và cảm hứng từ thành
công của những hoạt động ủng hộ thương mại tự do của
Cobden trong việc chấm dứt chính sách bảo hộ nông nghiệp ở
Anh vào năm 1846 đã dẫn đến kết quả là Bastiat chuyển hẳn về
Paris để thành lập Hiệp hội thương mại tự do ở Pháp và cho ra
đời tờ Le Libre Échange, ủng hộ sự nghiệp của Hiệp hội[15].
Bastiat làm việc nhằm tổ chức và tuyên truyền cho tự do
thương mại liên tục trong hai năm. Ban đầu ông đã lôi kéo được
khá nhiều người làm trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp
hỗ trợ các hoạt động của mình, trong đó có đóng góp những
bài phát biểu, xây dựng pháp luật cho việc bãi bỏ chủ nghĩa bảo
hộ của Pháp và viết sách báo nhằm chuyển hoá tư tưởng của
công luận. Nhưng không có kết quả. Có quá nhiều nhóm lợi ích
đặc biệt được hưởng lợi từ những ưu đãi của chính phủ và ông
không thể làm cho quần chúng thường xuyên quan tâm tới
những hoạt động của mình. Dường như Adam Smith đã đúng
khi phàn nàn về những định kiến của công chúng và sức mạnh
của các nhóm lợi ích, ít nhất là ở Pháp.
Sau cuộc cách mạng Tháng 2 năm 1848, Bastiat bắt đầu sự
nghiệp trong lĩnh vực chính trị, ban đầu là trong Quốc hội lập
hiến và sau đó trong Quốc hội. Sau khi đã dành hầu hết các tác
phẩm trước đây của mình nhằm chứng minh những sai lầm
trong những luận cứ của chủ nghĩa bảo hộ, Bastiat chuyển sự
chú ý của mình tới kẻ thù mới của tự do kinh tế: chủ nghĩa xã
hội. Ông đã tung ra những bài phát biểu mạnh mẽ nhằm chống
lại những chương trình về lao động xã hội, tức là những
chương trình bảo đảm công ăn việc làm trên toàn quốc, những
đề xuất về tái phân phối của cải, về quốc hữu hoá lĩnh vực công
nghiệp và những luận cứ nhằm mở rộng việc kiểm soát của bộ
máy hành chính quan liêu đối với đời sống xã hội và đời sống
kinh tế. Nhưng vì bệnh lao nặng làm cho giọng nói của ông
ngày càng yếu đi, ông lại quay sang lĩnh vực viết lách và đã viết
được nhiều bài tiểu luận thể hiện rõ những điều vô lí trong luận
cứ của những người xã hội chủ nghĩa.
Lần cuối cùng Bastiat xuất hiện ở Quốc hội là vào tháng 2
năm 1850. Mùa xuân năm đó sức khoẻ của ông xấu đi trông
thấy, buộc ông phải từ bỏ trách nhiệm trong Quốc hội và sống
cả mùa hè ở vùng núi Pyrénées, miền Nam nước Pháp. Ông trở
về Paris vào tháng 9 và đi thăm những người cùng ủng hộ sự
nghiệp thương mại tự do, trước khi qua Italy để tìm thuốc điều
trị bệnh lao. Ông qua đời ở Rome vào ngày 24 tháng 12 năm
1850, ở tuổi 49.
Di sản trí tuệ của Claude Frédéric Bastiat trong cuộc đấu
tranh cho nền kinh tế tự do được in thành ba tập. Hai cuốn là
bộ sưu tập những bài tiểu luận và những bài báo dí dỏm, sâu
cay và thấu triệt nhất của ông và đã được dịch sang tiếng Anh
với nhan đề Economic Sophisms[16] (tạm dịch: Những nguỵ biện
trong kinh tế học), và Selected Essays on Political Economy[17]
(tạm dịch: Những bài tiểu luận chọn lọc về kinh tế chính trị
học). Trong những năm cuối đời, Bastiat dành một phần thời
gian cho công trình bàn về triết học xã hội và những nguyên
tắc của kinh tế học, được xuất bản dưới nhan đề Economic
Harmonies[18] (tạm dịch: Hài hoà về kinh tế).
Henry Hazlitt đã đúng khi nhấn mạnh rằng những ý tưởng
quan trọng nhất trong nhiều tác phẩm của Bastiat được thể
hiện trong bài tiểu luận nhan đề “What Is Seen and What Is
Not Seen” (Cái nhìn thấy và cái không nhìn thấy), đấy là tác
phẩm cuối cùng ông viết trước khi qua đời[19]. Ông chỉ ra rằng
ảnh hưởng trong ngắn hạn của bất kì hành động hay chính
sách nào thường khác hẳn với hậu quả mà nó gây ra trong dài
hạn, và rằng, những hậu quả trong tương lai xa xôi đó, trên
thực tế, có thể trái ngược với những điều người ta từng hi vọng
hay lập kế hoạch lúc ban đầu.
Bastiat có thể áp dụng nguyên tắc của cái nhìn thấy và cái
không nhìn thấy vào thuế khoá và công việc của chính phủ. Khi
chính phủ đánh thuế, cái nhìn thấy là những công nhân có việc
làm và kết quả của sức lao động của họ: một con đường, một
cây cầu hay một con kênh được xây dựng. Cái không nhìn thấy
là tất cả những thứ có thể được sản xuất nếu người ta không
thu thuế của những người làm trong lĩnh vực tư nhân và nếu
những nguồn tài nguyên và lao động làm việc cho chính phủ
được tự do phục vụ nhu cầu của những công dân kia. Bastiat
giải thích rằng chính phủ chẳng làm được gì nếu không lấy các
nguồn lực và lao động mà lĩnh vực tư đang sử dụng.
Quan điểm thấu triệt, đơn giản và cực kì quan trọng đó là vũ
khí mang tính lí thuyết, nhờ đó Bastiat có thể chỉ ra những sai
lầm và mâu thuẫn trong những tư tưởng của cả phái bảo hộ lẫn
phái xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong những bài tiểu luận như
“Phong phú và khan hiếm”, “Trở ngại vật và nguyên nhân”,
và “Nỗ lực và kết quả”, ông chỉ ra rằng các rào cản và những
biện pháp cấm đoán thương mại tự do chỉ dẫn tới đói nghèo mà
thôi[20]. Ông nhấn mạnh rằng mỗi người trong chúng ta vừa là
người tiêu dùng vừa là người sản xuất.
Muốn tiêu thụ một món đồ, chúng ta phải tự làm hoặc làm
ra một món hàng khác mà chúng ta nghĩ rằng một người nào
đó sẽ trao đổi với món hàng mà chúng ta muốn. Là người tiêu
dùng, chúng ta muốn càng có nhiều hàng và giá càng rẻ thì
càng tốt. Nói cách khác, chúng ta muốn dư dật. Nhưng, là
người sản xuất, chúng ta lại muốn món hàng mà chúng ta đưa
ra thị trường ở trong tình trạng khan hiếm. Trong thị trường
cạnh tranh công khai, nơi mà tất cả các cuộc trao đổi đều là tự
nguyện, cách duy nhất để “tóm được” khách hàng và kiếm
được thu nhập tạo điều kiện cho mỗi người chúng ta, đến lượt
mình, trở thành người tiêu dùng, là cung cấp nhiều hàng hoá
hơn, tốt hơn, rẻ hơn đối thủ cạnh tranh của mình. Bastiat cảnh
báo rằng thay thế cho phương pháp này là mỗi người chúng ta,
như người sản xuất, quay sang đề nghị chính phủ cho chúng ta
những thứ thuộc quyền sở hữu của những người hàng xóm của
chúng ta, tức là những thứ mà chúng ta không thể nhận được
thông qua trao đổi hoà bình, bất bạo động trên thị trường.
Đây là đường ranh giới nổi tiếng mà Bastiat vạch ra giữa
cướp bóc bất hợp pháp và cướp bóc hợp pháp, cũng là trọng
tâm của tác phẩm Luật pháp[21]. Mục đích của chính phủ, ông
nói, chính là bảo ...
 





